Ước mơ cần thực hiện mỗi ngày | Lánh Duy
Việt Nam máu lửa

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hồng
Ngày gửi: 02h:56' 24-04-2024
Dung lượng: 1.4 MB
Số lượt tải: 1
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hồng
Ngày gửi: 02h:56' 24-04-2024
Dung lượng: 1.4 MB
Số lượt tải: 1
Số lượt thích:
0 người
Table of Contents
Thông tin eBook
TỰA
CHƯƠNG MỘT
A- Những nét lớn trong lịch-sử dân-tộc
CHƯƠNG HAI
1.- CHÍNH PHỦ TRẦN TRỌNG KIM
CHƯƠNG BA
CHÍNH NGHĨA QUỐC GIA
A.- YẾU TỐ TƯỢNG TRƯNG
CHƯƠNG BỐN
ĐƯỜNG LỐI CHÍNH TRỊ CỦA PHÁP ĐỐI VỚI VIỆT NAM 1947-1951
CHƯƠNG NĂM
GIAI ĐOẠN MỚI
CHƯƠNG SÁU
NHỮNG SỰ KIỆN CUỐI CÙNG 1953
PHẦN KÊT LUẬN
Chính Nghĩa Quốc Gia!
PHỤ LỤC
Chia sẽ ebook : http://downloadsachmienphi.com/
Tham gia cộng đồng chia sẽ sách :
Fanpage : https://www.facebook.com/downloadsachfree
Cộng đồng Google : http://bit.ly/downloadsach
Để tưởng niệm các đồng chí đã bỏ mình vì nước
và thân tặng các chiến sĩ đang tranh đấu
…tranh đấu không ngừng cho sự sống còn của TỔ QUỐC
Nghiêm Kế Tổ
TỰA
rận đại-chíến thứ hai đã chính-thức kết-liễu từ 1945 do sự đầu-hàng không điều-kiện
của các lực-lượng Phát-Xít Đức-Ý-Nhật.
Các dân-tộc đã tưởng rằng, nhân-loại sẽ vui vẻ dắt tay nhau trên đường kiến-thiết, sẽ
tu sửa lại những thành-phố nát-tan vì bom đạn, sẽ phát-triển sức sống mới dưới ánh
sáng của khoa-học văn-minh.
Các dân-tộc đã tưởng rằng, con người vừa trả qua một đe-doạ ghê-gớm của những hungthân ác-quỷ, sẽ tự-giác trong tư-tưởng, thanh-toán mọi xấu-xa nhơ-nhớp còn tồn-tại, sẽ tựgiác giải-thoát mình và tự đặt nhiệm-vụ giải-thoát người khác khỏi sự mọi rợ của xích-xiềng
áp-bức.
Nhưng buồn thay!….
Trận đại-chiến thứ hai vừa chấm dứt thì trận đại-chiến thứ ba đã lại bắt dầu và tính-chất
lưỡng-diện của nó vẫn chẳng ngoài: xâm-lăng – tự-vệ.
Đúng ra, người ta có thể nói trận chiến-tranh thứ ba đã bén rễ từ ngay trong lòng trận đạichiến thứ hai. Chúng ta thấy rằng cuộc ký-kết 1945 thật chưa xứng đáng với những chữ: Thếgiới đình-chiến. Và nếu muốn, nhân-loại thực ra cũng chẳng cần dùng đến chữ “kết-liễu” hay
“đại-chiến thứ ba” vì lẽ thời-gian của chiến-cuộc vẫn là một thời-gian liên-tiếp, con người vẫn
tàn-sát con người , có khác chăng chỉ là một vấn-đề thu-hẹp và biến-đổi hình-thái chiến-tranh.
Nhớ lại những cuộc họp mặt Đồng-Minh, những Yalta, những Téhéran….ở đó nhân-loại đã
nhìn rõ-ràng thấy những mâu-thuẫn nóng sẽ xẩy đến trong tưong-lai quốc-tế.
Cuộc đình-chiến ký-kết năm 1945 đã thực-hiện song-hành với những hành-động mới:
chiến-tranh tiếp diễn dưới hình-thức cục bộ ở Trung-Hoa, ở Cao-Ly, ở Việt-Nam, ở Phi-LuậtTân, ở Nam-Dương, ở Mã-Lai, ở Trung-Đông, ở Cận-Đông, ở Phi-châu… đấy là chưa kể chiếntranh trên những giải đất khác dưới hình-thái: chiến-tranh lạnh, chiến-tranh cân-não, chiếntranh tâm-lý
Trận đại-chiến 39-45 đã để lại trong đầu óc của con người thời-đại những dư-âm ghê-gớm:
tiếng bom, tiếng đạn, tiếng rú ghê hồn của Tử-Thần trên không-trung…Những dư-ảnh của
quặn đau: phố-phường tan-hoang, đất lành tung nổ trong đó con người xương thịt thoắt biến
thành tro tàn bụi khét.
Dư-âm và dư-ảnh ấy đã có sức-mạnh kìm hãm giống người trên đường tương sát, nhất là
cảng ngày nhân-loại càng phát-minh thêm những phương tiện mới-mẻ trong khoa-học giết
người.
Cũng vì dư-âm và dư-ảnh ấy cho nên chiến-tranh chưa bùng nổ một cách toàn-diện và tổnglực. Chưa bước sang giai-đoạn kinh-khiếp mà người ta vẫn mệnh-danh là : Đại-chiến thứ ba,
trận chiến-tranh Nguyên-tử.
Nhân-lại biết kinh sợ cho nên “đợt kinh-khủng” chưa thể tái diễn ở hoàn-cầu, trái lại người
ta cũng đã ra công dẹp bớt những cuộc xung-sát địa-phương, sự cố-gắng ấy thật đã là một ưuđiểm của nhân-loại.
Chúng ta thấy rằng lò lửa Cận-Đông đã được dập tắt dần, rồi Trung-Đông, rồi Nam-Dương,
Phi-Luật-Tân, Mã-Lai cũng vậy.
Ở Triều-Tiên và Trung-Hoa, tiếng súng cũng đã ngớt, người ta cố tránh dùng những
phương-tiện nóng. Nói chung, ở khắp mọi nơi tuy chưa hẳn được hoà-bình nhưng cũng có thể
đã tạm gọi là yên tiếng súng.
Riêng ở Việt-Nam, Việt-Nam chưa có hoà-bình.
Việt-Nam là một lò lửa đã từ 9 năm nay. Ở đấy lửa cháy liên-tiếp trong những năm ròng,
thiêu-tàn sức sống của muôn vật; ở đấy những con người nối đuôi nhau dài vô tận: chết âmthầm, đau-đớn.
Cuộc đổ máu ở Việt-Nam đã trường-kỳ nhất, gay-go nhất, huyền-ảo nhất.
T
Trường-kỳ, bởi vì bởi vì người Việt-Nam đã chống lại chế-độ của người ngoại-quốc từ nhiều
thế-kỷ nay.
Gay-go, bởi vì đã có bao nhiêu anh-hùng liệt-sĩ Việt-Nam phải bỏ mình và đã có ngay bao
nhiêu mầm non của đất nước tiếp-tục sự-nghiệp đấu-tranh.
Huyền-ảo, bởi vì ở Việt-Nam, lòng tin-tưởng thường chọi nhau với tù-đày, trí cương-quyết
thường chọi nhau với sức tàn sát, những cánh tay gầy thường chọi nhau với những súng ống
tối-tân…
Thực ra, không phải người Việt-Nam chỉ mới chiến đấu từ 9 năm gần đây, không phải chỉ
mới nổi dậy từ khi mặt trận Việt-Nam Độc-lập Đồng-Minh thành lập. Người Việt-Nam đã
chiến-đấu từ trước năm 1930 khi ở Việt-Nam các đảng-phái cách-mạng thành-lập, hơn nữa
người Việt-Nam đã chiến-đấu từ lâu rồi, âm-thầm chiến-đấu, nối tiếp chiến-đấu… Và còn
chiến-đấu cho đến khi nước nhà độc-lập, nước nhà thống-nhất, nước nhà tự-do trong hoà-bình
tiến-bộ, trong nhân-loại thái-bình.
Trước đây, Thế-giới ít biết đến Việt-Nam vì Việt-Nam chỉ là một quốc-gia xinh-xẻo với dânsố tý-hon mười lăm triệu.
Ngày nay, khoa-học giao-thông đã nối liền mảnh đất Việt-Nam với thế-giới, và cũng ngày
nay thế-giới mới có dịp hiểu cái xứ xa-xôi nhỏ bé đó thực ra đã chứa đựng những con người
không kém những con người của thiên-hạ văn-minh, thế-giới mới có dịp biết cái khối dân-số
tý-hon đó đã chứa đựng một sức mạnh trong những sức mạnh vô biên của nhân-loại.
o O o
9 năm qua, trận chiến nóng ở Việt-Nam là một trận chiến cục-bộ đối với hoàn-cầu.
Đã là một trận chiến-tranh cục-bộ tất-nhiên nó liên-hệ đến vận-mệnh chung, ngoài phạm-vi
ranh-giới.
9 năm qua, trận chiến Việt-Nam tuy đã mang nhiều tên khác nhau như chiến-tranh thuộcđịa, chiến-tranh Quốc-Cộng, nhưng thực ra, đứng-đắn mà nhận-xét, cuộc chiến-tranh hiện-tại
vẫn chỉ là một giai-đoạn trong cuộc chiến-đấu trường-kỳ của dân-tộc Việt-Nam từ một thế-kỷ
nay.
Để tất cả những người Việt-Nam có dịp nghiên-cứu mọi sự việc đã xẩy ra trong những năm
ghê-gớm nhất của Tổ-quốc, để nhắc-nhở cho tất cả những ai thường hay lãng quên nhiệm-vụ,
cố ý thoát-ly đời sống của mình ra khỏi hệ-thống chung của Quốc-gia Dân-tộc, để trình-bầy
một cách thiết thực quá-trình chiến-đấu của nhân-dân Việt-Nam trong khoảng thời-gian 9
năm trường, quá trình ấy thường khi bị ngoại-quốc tóm-tắt một cách sai lầm trên một số trang
sách báo, chúng tôi cố-gắng soạn quyển VIỆT-NAM MÁU LỬA ra mắt độc-giả.
Cố-gắng đứng ở vị-trí khách-quan, siêu đảng-phái để nhận-định và trình-bầy mọi sự việc đã
xẩy ra, phân-tách qua-loa những tư-tưởng chủ-quan của những vai trò phái-đảng hay ngoạiquốc đã biểu-diễn phô-bày trên đất nước , chúng tôi còn có một hoài-vọng đặc-biệt là sưu-tầm
để tự nghiên-cứu và để mọi người cùng có dịp nghiên-cứu bằng cách tổng-thu kết-hợp những
tài-liệu mỏng-manh trong một trang duy nhất: trang VIỆT-NAM MÁU LỬA.
VIỆT-NAM MÁU LỬA không phải là một cuốn sử vì VIỆT-NAM MÁU LỬA còn khiếm sót
nhiều trong những phạm-vi: cách-mạng sử-liệu, vấn đề thời-gian, nhân-vật, sự sống và sự
hoạt-động của nhân-dân, sinh-hoạt kinh-tế, chính-trị v.v…
VIỆT-NAM MÁU LỬA cũng không phải là một cuốn phiếm-luận vẩn-vơ vô căn-cứ vì VIỆTNAM MÁU LỬA đã chứa đựng một số tháng ngày đứng-đắn, một số nhân-vật đang chiến đấu
cho giải đất thân yêu của chúng ta, một số tài-liệu tuy ít ỏi nhưng vô cùng xác thực.
Về phương-diện tài-liệu, chúng tôi có thể nói rằng đó là những tài-liệu sống và quý-giá mà
chúng tôi đã may mắn sưu-tầm được để đem ra cống-hiến.
Có thể rằng, một số người có thiên-kiến sẽ lên án tác-giả là đã trình bầy xuyên-tạc nhưng, dù
sao, sự thực vẫn là sự thực, và ở đây tác-giả chỉ biết trình-bầy những điều mắt thấy tai nghe để
rồi mỗi độc-giả sẽ tự nhận-định và suy-xét theo lập-trường, quan-niệm của riêng mình.
Tuy nhiên, chúng tôi cũng tự thấy chưa được hài lòng về số lượng của tài-liệu, đó là lời xin
lỗi thứ nhất của tác-giả.
Lời xin lỗi thứ hai là sự hành-văn, lời văn không được gọt sửa kỹ-lưỡng có thể không làm
vừa lòng độc-giả. Khuyết-điểm ấy do thời-gian viết đã quá cấp-bách và ngắn-ngủi.
Lời xin lỗi thứ ba là sự sắp xếp những sự-kiện nhắc đi nhắc lại một vài vấn-đề. Sự thực đó là
một dụng-ý của chúng tôi dù rằng những sự-kiện khác nhau cũng thường khi đòi hỏi phải kể đi
– kể lại một nguồn phát sinh ra mọi việc.
Ước mong rằng VIỆT-NAM MÁU LỬA sẽ đem đến cho các bạn độc-giả một chút gì mới lạ
trong quan-niệm về cuộc chiến-tranh đang diễn biến trên giải đất yêu dấu của chúng ta.
NGHIÊM-KẾ-TỔ
(Mạnh hạ năm Giáp Ngọ 1954)
CHƯƠNG MỘT
A- Những nét lớn trong lịch-sử dân-tộc
á-tính quốc-gia trong quá-trình tranh-đấu của dân tộc
1- Chúng ta ngày nay tự hào và vinh dự khi đọc lại lịch-sử dân-tộc. Sức sinh-hoạt
mạnh-mẽ, óc tổ-chức quy-củ. Dân Việt-Nam không bao giờ có thể diệt-vong.
Quá-trình tiến-hoá của dân-tộc trên 4000 năm là quá-trình tranh-đấu của tổ-tiên, của
cha ông chúng ta. Trên quãng thời-gian dài dặc ấy, tâm-huyết người dân ngày càng hun đúc,
lòng hêu nước xót nòi, ngày càng tăng. Chúng ta tự hào với thành-tích, sự-nghiệp vĩ-đại của
tiên-nhân, kiêu-hãnh khi lật trang quốc-sử hùng-cường, oanh-liệt.
Vàng có thử lửa mới rõ là vàng tốt, người có trải gian nguy mới nổi bật giá-trị con người .
Dân-tộc cũng vậy. Nếu không có gian-lao thử thách, sao tỏ rõ được chí-khí quật-cường.
Suốg giòng lịch-sử, người dân Việt biết đoàn-kết, biết siết chặc hàng-ngũ – đã đẩy lui được
ý-chí xâm lăng miền Bắc, lập nền tự chủ – đã dẹp tan loạn phương Nam, mở mang bờ cõi – và
gần đây, không hổ danh là giống nòi Hồng-Lạc, đã tranh-đấu không ngừng ngăn cản sóng xâmlăng. Ý-chí ấy, quyết-tâm ấy, đoàn-kết ấy, ai là kẻ không hay ?
Qua các thời-đại, chí-khí quật cường, tinh-thần tự-chủ đã tượng-trưng bằng hành-động của
biết bao anh-hùng dân-tộc.
– Hai Bà Trưng diệt Hán cứu dân thoát vòng nô-lệt (40 sau Thiên-chúa giáng-sinh)
– Phá quân Lương, Lý-Bôn lập thời-kỳ tự-chủ II (544-602)
– Diệt tan quân Nam-Hán, Ngô-Quyền mở đường vinh-quang cho đất nước sau 3 lần Bắcthuộc (939-965)
Lòng thương yêu nòi giống, lòng thương yêu Tổ-quốc non sông là bó đuốc soi đường cho
dân-tộc.
Nào anh-hùng Lý-Thường-Kiệt bình Khâm-châu, Liêm-châu, Ung-châu (thuộc Quảng-đông
– Quảng-tây) đánh tan quân Tống trên sông Như-Nguyệt (Sông Cầu – 1075)
Nào Kiệt-liệt Trần-Quốc-Tuấn diệt quân Nguyên trên bến Vạn-Kiếp (1284), trên BạchĐằng-Giang (1287)
Nào anh-hùng Lê-Lợi đánh đuổi quân Minh (1427)
Nào anh-hùng áo vải Nguyễn-Huệ đại phá quân Thanh (1789)
Qua các triều-đại, tinh-thần quốc-gia và khả-năng sinh-tồn của dân-tộc đã được đánh dấu
bằng sự-nghiệp Nam-tiến.
Từ Bắc phương tràn xuống, sau khi đã bám chắc được đồng lũng Bắc Việt, để tránh khỏi tiêudiệt giữa sức ép của hai nền văn-minh tối-cổ hùng-hậu: Ấn-Độ và Trung-Hoa, muốn sống, dântộc Việt-Nam chỉ còn một cách là di dân lần lần về phương Nam.
Những cuộc hưng binh của Lê-Đại-Hành (981), Lê -Thái-Tôn (1044) để dẹp cái “bệnh” quấy
nhiễu của Chiêm-Thành, chỉ là dấu hiệu báo trước ý-định di dân của một dân-tộc thông-minh,
quy-củ, có tổ-chức và đầy sức sống. Đấy là ý-định thoát thai tất nhiên trong hoàn-cảnh địa-dư
và tinh-thần của một dân-tộc luôn luôn tiến-bộ như dân-tộc Việt.
Sự-nghiệp di dân vĩ-đại đã được đánh dấu đều đều.
Chúng ta thử kiểm-điểm những kết-quả của tiền-nhân.
– Năm 1069, Chế-Cư, vua Chiêm-Thành, dâng cho Thánh-Tôn nhà Lý 3 châu: Địa-Lý – MaLinh – Bố-Chính (thuộc Quảng-Bình – Quảng-Trị)
– Năm 1306, Chế-Mân dâng cho Nhân-Tôn nhà Trần đất Châu-Ô và Châu-Rí (Thừa-Thiên)
– Năm 1402, Ba-Đích-Lai dâng cho nhà Hồ đất Chiêm-Động và Cổ-Lũy (Quảng-Nam –
Quảng-Ngãi)
– Năm 1470, nhà Lê lấy đất Đồ-Bàn, Đại-Chiêm
– Năm 1611, Nguyễn-Hoàng lấy Phú-Yên
– Năm 1653, Chúa Hiến lập Thái-Ninh-Phủ (Khánh-Hoà)
– Năm 1693, Chúa Nguyễn lập Thuận-Phủ (Phủ-Bình-Thuận)
– Năm 1698 đến 1714, dân-tộc Việt-Nam lan đến Đồng-Nai Hạ rồi đến Hà-Tiên, cắm mốc
cuối cùng của sự-nghiệp mở mang bờ-cõi
Năm 1802, Đức Thế-Tổ Gia-Long thu gồm giang-sơn về một mối, dân Việt-Nam sống tưng-
C
bừng trong nền Độc-Lập thống-nhất, phú-cường.
Dân-tộc đã thành-công trong sự-nghiệp di dân vĩ-đại, dân-tộc đã tránh được sự thôn-tính
của Bắc-phương, đã thoát được ảnh-hưởng ở bên kia bờ Cửu-Long-giang và đã lập được một
nước Việt-Nam hùng mạnh, thống-nhất suốt từ Ải Nam-Quan đến đầu mũi Cà-Mâu. Người Việt
tự bảo-vệ giống-nòi, do đó phát-huy khả-năng dân-tộc
Mỗi bước tiến về phương Nam chỉ là mỗi cuộc “tấn-công để phòng thủ”. Tính-chất của nó
tương-đồng với ý-nghĩa của chiến-tranh tự-vệ chống Bắc-phương. Không thể ai chối cãi được
tinh-thần bảo-vệ giống-nòi, trong sự-nghiệp phát-triển quốc-gia dân-tộc.
Từ năm 1862 đến năm 1945, nước nhà bị rời vào ách nô-lệ nhưng, 83 năm, con cháu oanhliệt của tiền-nhân vẫn chiến-đấu không lúc nào ngừng, mặc dù thủ-đoạn thống-trị của Tâyphương khoa-học hơn mánh-khoé cai-trị của người Trung-Hao trước. Coi thường súng đạn,
coi thường giam cầm đầy ải, biết bao nhiêu hoạt-động cứu quốc vẫn kế tiếp nhau, biết bao
nhiêu phong-trào khởi-nghĩa vẫn thay phiên nhau:
Nào “Cần-Vương” của những Văn-thân bắt nguồn trong Khổng Mạnh.
Nào “Duy-Tân” với làn sóng văn-minh Âu – Á.
Nào “Dân-Tộc Giải-Phóng” với tư-tưởng cách-mệnh quốc-gia, quốc-tế.
Mỗi phong-trào tuy có khác nhau về hình-thức, nội-dung, nhưng kỳ chung, mục-đích đầu
tiên cũng vẫn là: cứu dân, cứu nước
Vì đâu dân-tộc Việt có óc tự-cường, không hề bị tiêu-diệt trước hành-vi thôn-tính của vũ-lực
ngoại-bang, trước ảnh-hưởng thấm-nhuần của mọi triết-lý Đông – Tây?
Chỉ vì dân-tộc Việt-Nam biết yêu nước, biết đoàn-kết, biết tranh-đấu. Không một sức mạnh
nào lay chuyển nổi dù sức mạnh đó tàn-bạo đến bực nào.
Cá-tính quốc-gia đã được tượng-trưng bằng mọi hình, mọi vẻ.
Người Việt-Nam từng chịu Trung-Hoa đô-hộ trên một nghìn năm, trong khi họ đem sang ta
dao bén, giáo dài. Họ đã mang theo cả khuôn-khổ của nền văn-hoá vĩ-đại hòng thôn-tính ta cả
về thể-xác lẫn tâm-hồn. Nhưng nhầm thay, dân-tộc Việt sẵn có một cá-tính giống-nòi — luyện
hợp với thủy-thổ, sinh-hoạt khí-hậu — đã biết thành cá-tính quốc-gia chỉ có phát-triển nhịp
theo hoàn-cảnh, điều-kiẹn chứ không bao giờ có thể suy-vong.
Qua bao thế-kỷ, từng thấm nhuần Đông-triết, nay thêm tiếp-xúc văn-hoá Thái-Tây, người
dân Việt đã biết dung-hoà và gìn giữ những gì là thích-hợp, tự tạo ra bản-năng đặc biệt và
không bị hoàn-toàn chi-phối.
Cá-tính Quốc-Gia đã được chứng-minh bởi lịch-sử:
– Người Việt học NHÂN, NGHĨA, LỄ, TRÍ ,TÍN TRUNG-QUÂN, ÁI-QUỐC của Khổng – Mạnh.
Nhưng người “tôi” Việt không “trung” với “Thiên-triều”; người dân Việt không “nhân” với bè lũ
Thoát-Hoan, mà cũng không hề “nghĩa” với bè lũ Tôn-Sĩ-Nghị.
– Trọng LÃO giáo, PHẬT giáo, THIÊN-CHÚA giáo, học vị-tha, bác-ái, suy “Điềm-tĩnh”, “Vô-vi”
nhưng trước hung-tàn bạo-ngược của ngoại-bang, người dân Việt biết đứng dậy xua đuổi quân
thù.
– Thấm nhuần lý-thuyết của Locke, của Voltaire, của Rousseau, nhưng không dung những kẻ
“tự-do” đi cướp “nhân quyền” để “phát-triển nhân-quyền”.
Trên một nghìn năm tranh-đấu chống ngoại-xâm đã chứng-minh tinh-thần dân-tộc.
Dân-tộc Việt ngày càng rèn dũa. phát-triển cá-tính quốc-gia trên mọi mặt.
Quân-sự:
Người Trung-Hoa dạy Tôn-Ngô Binh-pháp.
Người Việt đã quốc-gia-hoá Tôn-Ngô Binh-pháp: Binh-pháp của nhà Lý khiến cho Tốngtriều phải học lại. Binh-Thư Yếu-Lược của nhà Trần đã đẩy lui quân Nguyên.
Chính-trị, Văn-hoá, Xã-hội:
– Thái-độ mạnh bạo trong cuộc cải-cách văn-hoá như sự phát-triển chữ Nôm trong thời-kỳ
chữ Nho toàn-thịnh.
– Thực-hiện cải-cách cai-trị, thuế-má, điền-địa mặc dù trên đất nước Trung-Hoa những để
tử của Khổng – Mạnh vẫn còn rụt-rè.
Quá-trình tiến-hoá của dân-tộc, qua bao lớp sóng phế-hưng , qua bao cuộc xâm-lăng của
ngoại-bang đã không bị kiệt-quệ hoặc mất tính-chất thuần-túy quốc-gia, trái lại, đã nẩy nở
thêm chí quật-cường lòng yêu nước thương nòi vô bờ bến trong tâm-can người dân nước Việt.
B- Những ngày tàn của một chế-độ
Qua ngót nghìn năm sống hiên-ngang với nền tự-chủ, đến cuối thế-kỷ 19, đường Việt lại bắt
đầu vướng xích xiềng nô-lệ.
Người Pháp dùng chánh-sách “Tầm Thực” (tầm ăn dâu) chiếm miền Nam nước Việt (HoàƯớc 1862) rồi lấn dần, lập cuộc Bảo-hộ Bắc, Trung (Hoà-Ước 1874 và Hoà-Ước Harmand
1883).
Kế tiếp chánh-sách “tầm thực”, chánh-sách “Chia Để Trị” được áp-dụng triệt-để, kết-quả:
quyền nội-trị của Việt-Nam dần thu hẹp như “miếng da lừa”, ngày một mất tính-chất, có hìnhthức, thiếu nội-dung (Hoà-Ước 184 và 1883), không còn giá-trị thực-tế nữa.
Vòng thuộc địa bắt đầu.
CHÍNH-TRỊ
Bắc. Trung, Nam có riêng mỗi xứ một chế-độ. Mỗi chế-độ một tổ-chức khác nhau và hìnhthúc có vẻ dân-chủ:
– Nam-Việt có Thống-Đốc. Thống-Đốc lập ra Hội-đồng Thuộc-địa, Hội-đồng hàng Tỉnh, Hộiđồng Thành-phố.
– Trung-Việt có Khâm-Sứ làm việc “bên cạnh” nhà Vua. Khâm-Sứ coi việc “ngoại-giao” bằng
cách quyết đoán mọi việc và chủ toạ Viện-Cơ-Mật. Khâm-Sứ lập Hồi-đồng Dân-biểu và đặt
Công-sứ cho mỗi tỉnh.
-Bắc-Việt có Thống-Sứ. Thống-Sứ “hợp-tác” với Kinh-Lược Việt-Nam thay Vua định việc và
chỉ phải tâu với Vua những việc đã làm. Mỗi Tỉnh có một Công-Sứ trực tiếp cai-trị. Thống-Sứ
lập ra Hội-đồng hàng Tỉnh , Hội-đồng Dân-biểu.
Việc cai-trị 3 Xứ đặt dưới một Ông Toàn-Quyền. Toàn-Quyền phụ thuộc Bộ Thuộc-Địa Pháp.
KINH-TẾ:
Pháp thành-lập Sở Địa-Chất, Sở Mỏ đầy đủ để khai-thác tài-nguyên. Nhân-công của thuộcđịa nhiều và rẻ tiền khiến Pháp tận-lực lợi-dụng khai-khẩn trồng-trọt, mở-mang kỹ-nghệ nhẹ
để thu lợi:
– Nào mỏ than Hòn-Gay, Uông-Bí, mỏ vàng Bồng- Miêu, mỏ sắt Cao-Bằng…
– Nào đồn-điền cà-phê Yên-Bái, Phú-Thọ, Chi-Nê, đồn-điền cao-su Thủ-Dầu-Một, Biên-Hoà.
-Nào nhà máy giấy Đáp-Cầu, nhà máy đường Hiệp-Hoà, nhà máy xi-măng Hải-Phòng, nhà
máy diêm Bến Thủy, nhà máy sợi Nam-Định, nhà máy Rưọu, nhà máy Điện, nhà máy Nước
v.v…
Việc xuất-cảng, nhập-cảng bị nắm trọn quyền. Thuế-má, điền-thổ được cải-cách thích-hợp
theo nguyên-tắc muôn thuở của chánh-sách thực-dân.
QUÂN ĐỘI:
Một ngân-sách to lớn trên 100,000,000 đồng được thu lập để tổ-chức quân-đội, mục-đích
giữ vững địa-vị “Bảo-Hộ” tổng thu quyền-lợi kinh-tế.
GIÁO-DỤC:
Trường công mỗi tỉnh không quá hai trường. Trường tư không có phép mở tự-do. Sự học
gián-tiếp bị hạn-chế chỉ cốt có đủ số người dùng trong các công, tư sở Pháp. Đã vậy việc học
hành lại hết sức khó-khăn, vì phải đủ nhiều “điều-kiện cần-thiết” mới được nhập trường hay
thi-cử.
XÃ-HỘI:
Ngoài mấy công-việc đáng ghi nhớ như tẩy trừ bệnh dịch-hạch, đậu mùa, chó dại thì dân
Việt-Nam vẫn phải “ưa” dùng thuốc Bắc rẻ tiền, dễ bề mời thầy, gọi thuốc. Lý-do: nhà thương ít
ỏi, “đốc-tờ” ít ỏi.
Từ năm 1940, Toàn-Quyền Decoux cố-gắng bù đắp những lỗ hổng của quá-khứ:
– Cải-tổ Chính-phủ Nam-Triều (1942)
– Nâng cao Việt ngữ bậc Tiểu-học
– Cho phép thành-lập Hội Truyền-Bá Quốc-Ngữ
– Lập thêm trường ở hương-thôn
– Mở mang Đại-Học-vụ
– Công-chức Việt và Pháp tương-đối ngang ngạch về lương-bổng và đối-đãi.
– Phong-trào Thanh-niên Khoẻ của Thiếu-tá Ducoroy
– Đường sá cầu cống, thủy-nông, thành-phố được mở man sửa chữa.
Nhưng buồn thay, quá-trình “mở-mang khai-hoá” thuộc-địa của người Pháp đã làm cho
Việt-Nam kém tin-tưởng. Những cố-gắng của Toàn-Quyền Decoux không gây được tiếng vang
nào.
Chế-độ cai-trị và chánh-sách đối xử trong 83 năm qua đã gián-tiếp giúp Nhật-Bản lật đổ
chính-quyền.
Nhật-Bản tuyên-bố giả Độc-Lập cho Việt-Nam sau ngày 9 tháng 3-1945 và nêu rõ mục-đích
thiết-lập Đại Gia-Đình Đông-Á.
Việt-Nam Độc-Lập?
Trong lịch-sử các dân-tộc trên thế-giới thử hỏi có dân-tộc nào lại được may-mắn hưởng
độc-lập dễ-dàng theo liểu của Việt-Nam ?
Toàn dân Việt đã thấy, sau khi vua Bảo Đại tuyên-bố hủy-bỏ tất cả những Hiệp-Ước ký giữa
Việt – Pháp từ xưa để sửa-soạn tổ-chức một nước Việt-Nam Độc-Lập, thì tại Nam- Việt, Yoshio
Minoda chiếm địa-vị Thống-Đốc, nguyên Đại-sứ Yokoyam thay chân Khâm-Sứ Pháp ở TrungViệt và ngoài Bắc nhà ngoại-giao T.Tsukamoto nắm chặt cơ-quan cai-trị….
Song song với quyền cai-trị của các “Cố-Vấn” Nhật, chính-sách khủng-bố của quân-đội
Machijiri, Tsushihashi, Sadao Kawamura được áp-dụng triệt-để làm hậu-thuẩn.
Việt-Nam chỉ độc-lập trên giấy tờ!!
Chính-sách thống-trị mới, vừa thâm-thúy vừa ích-kỷ vừa kiêu-ngạo độc-ác của quân-đội
Thiên-Hoàng, vừa do hoàn-cảnh chiến-tranh khiến dân ta càng thêm đói cực, chết chóc kể
hàng triệu.
Tâm-can người Việt-Nam hun-đúc trên 80 năm Pháp thuộc, nay người Nhật tưới thêm, dầu
lửa cứu quốc nhất định phải bùng lên.
Chế-độ của Pháp, của Nhật, hay chế-độ thực-dân-địa nói chung đã đưa đến kết-quả dĩ nhiên:
ngày lịch-sử 19 tháng 8 năm 1945.
CHƯƠNG HAI
1.- CHÍNH PHỦ TRẦN TRỌNG KIM
hiến tranh hoàn cầu lần thứ II bùng nổ. Một việc trọng đại làm thay đổi cuộc diện thế
giới như vậy, người Việt Nam không hề tỏ thái độ của mình. Hoặc ủng hộ Đồng Minh,
hoặc theo ''Trục'' hay ít nhất, đối ngoại phải tỏ rõ lập trường, đối nội, phải tích cực
chuẩn bị giữ mình.
Hiểu tiền đồ dân tộc, rõ sự liên hệ mình với người, biết nhìn trước thời cuộc, chỉ có những
người làm chính trị, những đảng phái cách mệnh, hay một số các người được gọi là trí thức.
Phải chăng đại đa số dân Việt Nam không biết đọc, không biết viết, không có dịp tập hợp
dưới cờ Cứu Quốc, đã không theo dõi được tình hình, không kiểm điểm nổi bước tiến của Lịch
Sử dân tộc ?
Phải chăng, với tình hình thế giới, người Việt Nam quá lãnh đạm thờ ơ ?
Nước Pháp thua ư ? Thì kẻ chiến thắng Pháp cũng là kẻ chiến thắng Việt Nam.
Ngước Pháp được ư ? Người Việt vẫn trong vòng cương tỏa, có chăng vài ''tù nhân'' được ân
xá, vài ngày lễ chiến thắng, điểm binh, công chức nghỉ phép, học trò được chơi…
Thế này hoặc thế khác, người dân Việt vẫn phải còng lưng làm việc, đóng thuế (có khi nặng
hơn trước để bù vào chiến tranh phí), vẫn mù chữ (vì dốt nát giúp sự cai trị được dễ dàng), vẫn
không được tự do ngôn luận, lập hội, lập đoàn…Nghĩa là người dân không thay đổi gì hết, nếu
có, cũng không đáng kể gì.
Tại sao dân Việt Nam lại thờ ơ như vậy ?
Vì chế độ thuộc địa trên đất Việt đã khắc sâu vào tâm khảm người dân những nét đáng buồn.
Trên giải đất thân yêu có những phản ảnh lúc tế nhị, lúc bạo tàn. Sự thay đổi làn không khí
âm u của non thế kỷ, dù không khí mới nhẹ hay nặng, việc đó không chắc lợi lộc gì cho Việt
Nam cả.
Trạng thái tâm lý đã như vậy, nhưng tinh thần ra sao ? Phải chăng qua 80 năm trói buộc, tâm
hồn người Việt đã bị trơ mòn đến nỗi tê liệt óc tranh đấu quật cường ?
Không!!
Bản tính người Việt suy nghĩ và trầm lặng.
Người dân Việt hằng nhắc tới hành động yêu nước trong những phong trào khởi nghĩa của
Cha, Anh. Người dân vẫn chờ đợi, chờ đợi một cái gì mới mẻ sẽ đến.
Năm 1939, chiến tranh thế giớ thực sự bắt đầu.
Trục là kẻ thù của Pháp: Nhật Bản ở phe Trục. Nhật là người Á Đông, hình dáng giống Trung
Hoa và Việt. Nhật cũng hấp thụ đạo lý Khổng Mạnh, cũng dùng chữ Nho: Huynh đệ với Việt
Nam về phương diện tinh thần! Người dân Việt biết thế.
Năm 1940, muốn đánh tập hậu và chặt đường tiếp tế Tưởng Giới Thạch, quân đội Thiên
Hoàng cố tình đổ lỗi cho Pháp, tìm cớ để mượn đường Bắc Việt hành quân. Đã kém vế với
Hitler ở chính quốc, Pháp phải ôn hòa với Nhật ở Đông Dương, vì xét thực lực mọi mặt, Nhật
Bản nắm ưu thế rõ ràng.
Sau một hồi tin đi mối lại, dưới sự hăm dọa của quân đội Phù Tang, Đô Đốc Decoux, người
vừa thay thế chức Toàn Quyền Đông Dương của Tướng Catroux, dằn lòng cho Đại Tá Nhật đem
quân lực vào Bắc Việt, ''mượn'' Hải Phòng làm trạm dừng quân, ''mượn'' căn cứ Gia Lâm, Lào
Kay, Phủ Lạng Thượng cho Không Quân Hoàng Gia. Đối lại, chánh phủ Nhật phải tôn trọng chủ
quyền Pháp ở Đông Dương và bảo đảm hành vi quân đội.
Tháng 9.1940, quân Nhật đặt chân lên đất Việt Nam theo thỏa hiệp đã ký kết.
Thoạt đầu bóng người quân nhân Nhật Bản cũng gây được đôi chút cảm tình với người dân
Việt: có lúc lính Nhật cho trẻ con kẹo, bánh, thuốc lá, có lúc họ vào chơi nhà dân chúng, vái bàn
thờ một cách lễ độ, có lúc họ đánh người Pháp bênh người Việt ngoài đường phố…Thái độ ấy
người dân Việt thường tỏ ra bằng lòng.
Về sinh hoạt, người Nhật liên tiếp mở hiệu buôn, nhà thầu, tương đối giảm bớt được một số
người thất nghiệp, có người đã trở nên giàu có…Hàng của họ bán rất rẻ, vải có, thuốc có (Thời
kỳ này, ngoại phẩm bên Pháp không sang được).
Chữ Nho như trỗi dậy sau 80 năm tưởng chừng đã chết. Việt và Nhật có thể bút thoại, người
C
ta bắt đầu sưu tầm ''bước tiến'' loại sách báo Tân A, ''Vương dương Minh'' thấy xuất hiện.
Người dân quen dần với những chiếc xe nhà binh màu đất, với kiểu quần áo cắt lùng thùng, với
cây kiếm dài lê thê, với tiếng giầy đinh lệt xệt…Một đôi khi, từ cái mũ (lưỡi trai) thốt ra câu
tiếng Việt, người dân nghĩ đến Kỳ Ngoại Hầu Cường Để, rể của Hoàng Tộc Phù Tang, bàn tán
đến Việt Nam Phục Quốc Đồng Minh Hội.
Nhật thắng Pháp thêm một điểm, dân chúng Việt Nam quay nhìn sức mạnh của con cháu
Thái Dương Thần Nữ, tơ tưởng đến lòng tốt của người Nhật Bản.
Chính khách của Thiên Hoàng xúc tiến đẩy mạnh phong trào nào giúp Đảng Đại Việt, Việt
Nam Phục Quốc, Cao Đài, Hòa Hảo, v.v…
Đồng thời với những vụ rối loạn, bạo động ở Sài Gòn, Cần Thơ, Rạch Giá, Bạc Liêu, Đồng
Tháp Mười (1940), Nghệ An, Đô Lương (1941), Pháp phải dùng đến bom triệt hạ, người Nhật
đã biết lợi dụng lòng yêu nước của người Việt để xoa nặn lòng ái quốc của dân tộc Việt Nam ,
mục đích đẩy Pháp đến đường cùng.
Giữa lúc Pháp và Nhật tranh dành nhau, kèn cựa đối phó nhau, phong trào Việt Minh phát
triển: Mối lo âu cho Nhật lẫn Pháp.
Việt Minh là hai chữ tắt của Việt Nam Độc Lập Đồng Minh Hội, do một số các người cách
mệnh quốc tế lãnh đạo, thành lập năm 1941. Phương châm: ''Bài Phong, Phản Đế, Diệt Phát Xít''
giải phóng dân tộc Việt Nam, hợp tác với mọi lực lượng chống Phát Xít, tiêu diệt thực dân và đế
quốc chủ nghĩa.
Việt Minh tố giác Nhật Bản bề ngoài mơn trớn dân ta, bề trong giết ngấm, giết ngầm. Nào
''mua'' thóc, nào ''khuyến khích'' trồng đay, trồng gai thay cho ngô, lúa. Người Nhật có phương
tiện ''giản dị'' hơn người Pháp, thích hợp hơn người Pháp: dân ta, kẻ nào làm ''rối trật tự'' chắc
chắn được đi nếm vị ''âm dương'', ''tầu bay, tầu thủy'' [1] tượng trưng thuần túy của ''Võ sĩ đạo''
và thường thường, kẻ ''có tội'' được trả nợ non sống dưới đường kiếm sắc.
Tinh thần người dân Việt lại lung lay. Tâm lý người dân Việt lại thay đổi. Một số người lại
tiếc rẻ hình dáng cũ. Quân đội Nhật hung ác quá.
Người Nhật đào thêm hố chia rẽ giữa Pháp và Việt. Thái độ bàng quan của Việt do đó ngày
càng rõ.
Phái thân Nhật phát triển hoạt động. Pháp cố gắng liên lạc với Đồng Minh. Tiềm lực giải
phóng quốc gia dân tộc của Việt Nam liên tục chuyển mình.
Đùng một cái Matsumoto gửi tối hậu thư cho Decoux (20 giờ ngày 8.3. 1945), mười tiếng
đồng hồ sau, cờ mặt giời phất phới tung bay trên thủ đô nước Việt.
9.3.1945!
Tòa nhà của Pháp nỗ lực xây trong 80 năm đằng đẵng sụp đổ trong khoảng khắc.
Sau khi đảo chính, Tổng tư lệnh quân đội Nhật ở Đông Dương tuyên bố: ''Người Nhật trao trả
Độc Lập cho Việt Nam để cùng nhau lập khối Đại Đông Á'' [2]
Ngày 11.3.1945, Vua Bảo Đại tuyên bố hủy bỏ tất cả những hiệp ước ký với Pháp từ xưa và
chánh phủ Việt Nam tin tưởng ở nhiệt thành, đẹp đẽ của Nhật: Việt Nam Độc Lập.
Báo chí lại bắt đầu xuất bản. Các đảng phái công khai xuất hiện: Phục Quốc, Đại Việt Quốc
Gia Liên Minh, Thanh Niên Ái Quốc Đoàn v.v…
Tuy niên dân chúng vẫn thờ ơ, chưa thấy điều gì mới lạ. Để giải quyết vấn đề tâm lý, Nội các
của các ông Thượng Thư giải tán.
Sau khi chuẩn y cho Nội Các cũ từ chức, Vua Bảo Đại triệu tập nhân tài ra giúp nước.
Tình trạng bi đát lúc giao thời: Nạn đói tung hoành trên đất Bắc, đốt thóc khai than tại miền
Nam, toàn thể bộ máy hành chính bị tê liệt, sự đi lại bị kiểm soát ngặt nghèo. Thêm vào đó nạn
chợ đen và bom Mỹ. Một đạo Dụ ra đời tạm thỏa lòng dân mong đợi:
Nước Việt Nam Độc Lập đã có một Nội Các mới (17.4.1945) do Cụ Trần Trọng Kim làm Thủ
Tướng với các Bộ:
Ngoại Giao:
Nội Vụ:
Kinh Tế:
Tài Chính:
Trần Văn Chương
Trần Đình Nam
Hồ Tá Khanh
Vũ Văn Hiền
Tiếp Tế:
Nguyễn Hữu Thi
Giáo Dục Và Mỹ Thuật: Hoàng Xuân Hãn
Tư Pháp:
Trịnh Đình Thảo
Thanh Niên:
Phan Anh
Giao Thông Công Chính:Lưu Văn Lang
Y Tế Cứu Tế:
Trương Như Định
Đó là Nội Các đầu tiên với những tên Bộ nghe tân tiến. Chính phủ Nam triều trước ngày
9.3.1945 gồm có 6 Bộ do ông Phạm Quỳnh lãnh đạo:
Bộ Lại:
Phạm Quỳnh (Nội Vụ)
Bộ Hộ:
Hồ Đắc Khải (Tài Chính)
Bộ Lễ:
Ưng Ủy (Tư Pháp)
Bộ Học:
Trần Thanh Đạt (Giáo Dục)
Bộ Kinh Tế:Trương Như Định
Việc thành lập Nội Các mới đã giải quyết vấn đề tâm lý dân chúng một khoảng khắc. Người
dân tỏ cảm tình khi nhận thấy số đông các vị Bộ Trưởng là những người tương đối có tài có
đức. Cụ Trần Trọng Kim là một học giả danh tiếng, tài năng và đức hạnh của Cụ nhiều người đã
biết. Lòng ái quốc từng được diễn đạt qua những tác phẩm của Cụ. Nay đứng lãnh đạo chính
phủ với khẩu hiệu Dân Vi Quý của Vua Bảo Đại. Quốc dân tỏ vẻ tín nhiệm chính phủ mới cũng
như Hoàng Đế tín nhiệm [3]
Ngày 3.5.1945, Hoàng Đế Bảo Đại ban bố một Bản Tuyên Chiếu lời lẽ súc tích, cứng cỏi,
quảng đạt và vô cùng sáng suốt:
'' Chư Khanh,
Nội Các này là chính phủ đầu tiên của nước Việt Nam Độc Lập sau 80 năm thuộc quyền
ngoại quốc thống trị.
Trong thời gian đó, dưới chính thể eo hẹp của người ngoài, dù có tài năng ra giúp nước cũng
thể thi thố được gì.
Nay nhờ được Hoàng Quân Đại Nhật Bản, nước nhà đã được giải phóng.
Những người ra gánh vác việc nước ngày nay là được cái vinh dự tối cao, mà cũng là đảm
đương một trách nhiệm rất to và chịu một sự hy sinh rất nặng.
Trẫm đã lựa chọn khắp nhân tài trong nước, kén lấy những người có học thức, có kinh
nghiệm để đảm đương việc nước trong buổi bây giờ. Trẫm chắc rằng chư khanh sẽ làm chức vụ
không phụ lòng Trẫm ủy thác và lòng dân kỳ vọng.
Điều cần nhất là phải gây sự đồng tâm hiệp lực trong toàn thể quốc dân. Phải đoàn kết chặt
chẽ các giai tầng xã hội và luôn luôn giữ mối liên lạc mật thiết giữa Chính phủ và nhân dân.
Chính phủ ngày nay không phải phụng sự một cá nhân hay một đảng phái nào cả. Dân nô lệ
nhất thiết ỷ lại ở người, dân độc lập nhất thiết trông cậy ở mình. Trông ở mình thì phải gắng
sức hy sinh mới mo...
Thông tin eBook
TỰA
CHƯƠNG MỘT
A- Những nét lớn trong lịch-sử dân-tộc
CHƯƠNG HAI
1.- CHÍNH PHỦ TRẦN TRỌNG KIM
CHƯƠNG BA
CHÍNH NGHĨA QUỐC GIA
A.- YẾU TỐ TƯỢNG TRƯNG
CHƯƠNG BỐN
ĐƯỜNG LỐI CHÍNH TRỊ CỦA PHÁP ĐỐI VỚI VIỆT NAM 1947-1951
CHƯƠNG NĂM
GIAI ĐOẠN MỚI
CHƯƠNG SÁU
NHỮNG SỰ KIỆN CUỐI CÙNG 1953
PHẦN KÊT LUẬN
Chính Nghĩa Quốc Gia!
PHỤ LỤC
Chia sẽ ebook : http://downloadsachmienphi.com/
Tham gia cộng đồng chia sẽ sách :
Fanpage : https://www.facebook.com/downloadsachfree
Cộng đồng Google : http://bit.ly/downloadsach
Để tưởng niệm các đồng chí đã bỏ mình vì nước
và thân tặng các chiến sĩ đang tranh đấu
…tranh đấu không ngừng cho sự sống còn của TỔ QUỐC
Nghiêm Kế Tổ
TỰA
rận đại-chíến thứ hai đã chính-thức kết-liễu từ 1945 do sự đầu-hàng không điều-kiện
của các lực-lượng Phát-Xít Đức-Ý-Nhật.
Các dân-tộc đã tưởng rằng, nhân-loại sẽ vui vẻ dắt tay nhau trên đường kiến-thiết, sẽ
tu sửa lại những thành-phố nát-tan vì bom đạn, sẽ phát-triển sức sống mới dưới ánh
sáng của khoa-học văn-minh.
Các dân-tộc đã tưởng rằng, con người vừa trả qua một đe-doạ ghê-gớm của những hungthân ác-quỷ, sẽ tự-giác trong tư-tưởng, thanh-toán mọi xấu-xa nhơ-nhớp còn tồn-tại, sẽ tựgiác giải-thoát mình và tự đặt nhiệm-vụ giải-thoát người khác khỏi sự mọi rợ của xích-xiềng
áp-bức.
Nhưng buồn thay!….
Trận đại-chiến thứ hai vừa chấm dứt thì trận đại-chiến thứ ba đã lại bắt dầu và tính-chất
lưỡng-diện của nó vẫn chẳng ngoài: xâm-lăng – tự-vệ.
Đúng ra, người ta có thể nói trận chiến-tranh thứ ba đã bén rễ từ ngay trong lòng trận đạichiến thứ hai. Chúng ta thấy rằng cuộc ký-kết 1945 thật chưa xứng đáng với những chữ: Thếgiới đình-chiến. Và nếu muốn, nhân-loại thực ra cũng chẳng cần dùng đến chữ “kết-liễu” hay
“đại-chiến thứ ba” vì lẽ thời-gian của chiến-cuộc vẫn là một thời-gian liên-tiếp, con người vẫn
tàn-sát con người , có khác chăng chỉ là một vấn-đề thu-hẹp và biến-đổi hình-thái chiến-tranh.
Nhớ lại những cuộc họp mặt Đồng-Minh, những Yalta, những Téhéran….ở đó nhân-loại đã
nhìn rõ-ràng thấy những mâu-thuẫn nóng sẽ xẩy đến trong tưong-lai quốc-tế.
Cuộc đình-chiến ký-kết năm 1945 đã thực-hiện song-hành với những hành-động mới:
chiến-tranh tiếp diễn dưới hình-thức cục bộ ở Trung-Hoa, ở Cao-Ly, ở Việt-Nam, ở Phi-LuậtTân, ở Nam-Dương, ở Mã-Lai, ở Trung-Đông, ở Cận-Đông, ở Phi-châu… đấy là chưa kể chiếntranh trên những giải đất khác dưới hình-thái: chiến-tranh lạnh, chiến-tranh cân-não, chiếntranh tâm-lý
Trận đại-chiến 39-45 đã để lại trong đầu óc của con người thời-đại những dư-âm ghê-gớm:
tiếng bom, tiếng đạn, tiếng rú ghê hồn của Tử-Thần trên không-trung…Những dư-ảnh của
quặn đau: phố-phường tan-hoang, đất lành tung nổ trong đó con người xương thịt thoắt biến
thành tro tàn bụi khét.
Dư-âm và dư-ảnh ấy đã có sức-mạnh kìm hãm giống người trên đường tương sát, nhất là
cảng ngày nhân-loại càng phát-minh thêm những phương tiện mới-mẻ trong khoa-học giết
người.
Cũng vì dư-âm và dư-ảnh ấy cho nên chiến-tranh chưa bùng nổ một cách toàn-diện và tổnglực. Chưa bước sang giai-đoạn kinh-khiếp mà người ta vẫn mệnh-danh là : Đại-chiến thứ ba,
trận chiến-tranh Nguyên-tử.
Nhân-lại biết kinh sợ cho nên “đợt kinh-khủng” chưa thể tái diễn ở hoàn-cầu, trái lại người
ta cũng đã ra công dẹp bớt những cuộc xung-sát địa-phương, sự cố-gắng ấy thật đã là một ưuđiểm của nhân-loại.
Chúng ta thấy rằng lò lửa Cận-Đông đã được dập tắt dần, rồi Trung-Đông, rồi Nam-Dương,
Phi-Luật-Tân, Mã-Lai cũng vậy.
Ở Triều-Tiên và Trung-Hoa, tiếng súng cũng đã ngớt, người ta cố tránh dùng những
phương-tiện nóng. Nói chung, ở khắp mọi nơi tuy chưa hẳn được hoà-bình nhưng cũng có thể
đã tạm gọi là yên tiếng súng.
Riêng ở Việt-Nam, Việt-Nam chưa có hoà-bình.
Việt-Nam là một lò lửa đã từ 9 năm nay. Ở đấy lửa cháy liên-tiếp trong những năm ròng,
thiêu-tàn sức sống của muôn vật; ở đấy những con người nối đuôi nhau dài vô tận: chết âmthầm, đau-đớn.
Cuộc đổ máu ở Việt-Nam đã trường-kỳ nhất, gay-go nhất, huyền-ảo nhất.
T
Trường-kỳ, bởi vì bởi vì người Việt-Nam đã chống lại chế-độ của người ngoại-quốc từ nhiều
thế-kỷ nay.
Gay-go, bởi vì đã có bao nhiêu anh-hùng liệt-sĩ Việt-Nam phải bỏ mình và đã có ngay bao
nhiêu mầm non của đất nước tiếp-tục sự-nghiệp đấu-tranh.
Huyền-ảo, bởi vì ở Việt-Nam, lòng tin-tưởng thường chọi nhau với tù-đày, trí cương-quyết
thường chọi nhau với sức tàn sát, những cánh tay gầy thường chọi nhau với những súng ống
tối-tân…
Thực ra, không phải người Việt-Nam chỉ mới chiến đấu từ 9 năm gần đây, không phải chỉ
mới nổi dậy từ khi mặt trận Việt-Nam Độc-lập Đồng-Minh thành lập. Người Việt-Nam đã
chiến-đấu từ trước năm 1930 khi ở Việt-Nam các đảng-phái cách-mạng thành-lập, hơn nữa
người Việt-Nam đã chiến-đấu từ lâu rồi, âm-thầm chiến-đấu, nối tiếp chiến-đấu… Và còn
chiến-đấu cho đến khi nước nhà độc-lập, nước nhà thống-nhất, nước nhà tự-do trong hoà-bình
tiến-bộ, trong nhân-loại thái-bình.
Trước đây, Thế-giới ít biết đến Việt-Nam vì Việt-Nam chỉ là một quốc-gia xinh-xẻo với dânsố tý-hon mười lăm triệu.
Ngày nay, khoa-học giao-thông đã nối liền mảnh đất Việt-Nam với thế-giới, và cũng ngày
nay thế-giới mới có dịp hiểu cái xứ xa-xôi nhỏ bé đó thực ra đã chứa đựng những con người
không kém những con người của thiên-hạ văn-minh, thế-giới mới có dịp biết cái khối dân-số
tý-hon đó đã chứa đựng một sức mạnh trong những sức mạnh vô biên của nhân-loại.
o O o
9 năm qua, trận chiến nóng ở Việt-Nam là một trận chiến cục-bộ đối với hoàn-cầu.
Đã là một trận chiến-tranh cục-bộ tất-nhiên nó liên-hệ đến vận-mệnh chung, ngoài phạm-vi
ranh-giới.
9 năm qua, trận chiến Việt-Nam tuy đã mang nhiều tên khác nhau như chiến-tranh thuộcđịa, chiến-tranh Quốc-Cộng, nhưng thực ra, đứng-đắn mà nhận-xét, cuộc chiến-tranh hiện-tại
vẫn chỉ là một giai-đoạn trong cuộc chiến-đấu trường-kỳ của dân-tộc Việt-Nam từ một thế-kỷ
nay.
Để tất cả những người Việt-Nam có dịp nghiên-cứu mọi sự việc đã xẩy ra trong những năm
ghê-gớm nhất của Tổ-quốc, để nhắc-nhở cho tất cả những ai thường hay lãng quên nhiệm-vụ,
cố ý thoát-ly đời sống của mình ra khỏi hệ-thống chung của Quốc-gia Dân-tộc, để trình-bầy
một cách thiết thực quá-trình chiến-đấu của nhân-dân Việt-Nam trong khoảng thời-gian 9
năm trường, quá trình ấy thường khi bị ngoại-quốc tóm-tắt một cách sai lầm trên một số trang
sách báo, chúng tôi cố-gắng soạn quyển VIỆT-NAM MÁU LỬA ra mắt độc-giả.
Cố-gắng đứng ở vị-trí khách-quan, siêu đảng-phái để nhận-định và trình-bầy mọi sự việc đã
xẩy ra, phân-tách qua-loa những tư-tưởng chủ-quan của những vai trò phái-đảng hay ngoạiquốc đã biểu-diễn phô-bày trên đất nước , chúng tôi còn có một hoài-vọng đặc-biệt là sưu-tầm
để tự nghiên-cứu và để mọi người cùng có dịp nghiên-cứu bằng cách tổng-thu kết-hợp những
tài-liệu mỏng-manh trong một trang duy nhất: trang VIỆT-NAM MÁU LỬA.
VIỆT-NAM MÁU LỬA không phải là một cuốn sử vì VIỆT-NAM MÁU LỬA còn khiếm sót
nhiều trong những phạm-vi: cách-mạng sử-liệu, vấn đề thời-gian, nhân-vật, sự sống và sự
hoạt-động của nhân-dân, sinh-hoạt kinh-tế, chính-trị v.v…
VIỆT-NAM MÁU LỬA cũng không phải là một cuốn phiếm-luận vẩn-vơ vô căn-cứ vì VIỆTNAM MÁU LỬA đã chứa đựng một số tháng ngày đứng-đắn, một số nhân-vật đang chiến đấu
cho giải đất thân yêu của chúng ta, một số tài-liệu tuy ít ỏi nhưng vô cùng xác thực.
Về phương-diện tài-liệu, chúng tôi có thể nói rằng đó là những tài-liệu sống và quý-giá mà
chúng tôi đã may mắn sưu-tầm được để đem ra cống-hiến.
Có thể rằng, một số người có thiên-kiến sẽ lên án tác-giả là đã trình bầy xuyên-tạc nhưng, dù
sao, sự thực vẫn là sự thực, và ở đây tác-giả chỉ biết trình-bầy những điều mắt thấy tai nghe để
rồi mỗi độc-giả sẽ tự nhận-định và suy-xét theo lập-trường, quan-niệm của riêng mình.
Tuy nhiên, chúng tôi cũng tự thấy chưa được hài lòng về số lượng của tài-liệu, đó là lời xin
lỗi thứ nhất của tác-giả.
Lời xin lỗi thứ hai là sự hành-văn, lời văn không được gọt sửa kỹ-lưỡng có thể không làm
vừa lòng độc-giả. Khuyết-điểm ấy do thời-gian viết đã quá cấp-bách và ngắn-ngủi.
Lời xin lỗi thứ ba là sự sắp xếp những sự-kiện nhắc đi nhắc lại một vài vấn-đề. Sự thực đó là
một dụng-ý của chúng tôi dù rằng những sự-kiện khác nhau cũng thường khi đòi hỏi phải kể đi
– kể lại một nguồn phát sinh ra mọi việc.
Ước mong rằng VIỆT-NAM MÁU LỬA sẽ đem đến cho các bạn độc-giả một chút gì mới lạ
trong quan-niệm về cuộc chiến-tranh đang diễn biến trên giải đất yêu dấu của chúng ta.
NGHIÊM-KẾ-TỔ
(Mạnh hạ năm Giáp Ngọ 1954)
CHƯƠNG MỘT
A- Những nét lớn trong lịch-sử dân-tộc
á-tính quốc-gia trong quá-trình tranh-đấu của dân tộc
1- Chúng ta ngày nay tự hào và vinh dự khi đọc lại lịch-sử dân-tộc. Sức sinh-hoạt
mạnh-mẽ, óc tổ-chức quy-củ. Dân Việt-Nam không bao giờ có thể diệt-vong.
Quá-trình tiến-hoá của dân-tộc trên 4000 năm là quá-trình tranh-đấu của tổ-tiên, của
cha ông chúng ta. Trên quãng thời-gian dài dặc ấy, tâm-huyết người dân ngày càng hun đúc,
lòng hêu nước xót nòi, ngày càng tăng. Chúng ta tự hào với thành-tích, sự-nghiệp vĩ-đại của
tiên-nhân, kiêu-hãnh khi lật trang quốc-sử hùng-cường, oanh-liệt.
Vàng có thử lửa mới rõ là vàng tốt, người có trải gian nguy mới nổi bật giá-trị con người .
Dân-tộc cũng vậy. Nếu không có gian-lao thử thách, sao tỏ rõ được chí-khí quật-cường.
Suốg giòng lịch-sử, người dân Việt biết đoàn-kết, biết siết chặc hàng-ngũ – đã đẩy lui được
ý-chí xâm lăng miền Bắc, lập nền tự chủ – đã dẹp tan loạn phương Nam, mở mang bờ cõi – và
gần đây, không hổ danh là giống nòi Hồng-Lạc, đã tranh-đấu không ngừng ngăn cản sóng xâmlăng. Ý-chí ấy, quyết-tâm ấy, đoàn-kết ấy, ai là kẻ không hay ?
Qua các thời-đại, chí-khí quật cường, tinh-thần tự-chủ đã tượng-trưng bằng hành-động của
biết bao anh-hùng dân-tộc.
– Hai Bà Trưng diệt Hán cứu dân thoát vòng nô-lệt (40 sau Thiên-chúa giáng-sinh)
– Phá quân Lương, Lý-Bôn lập thời-kỳ tự-chủ II (544-602)
– Diệt tan quân Nam-Hán, Ngô-Quyền mở đường vinh-quang cho đất nước sau 3 lần Bắcthuộc (939-965)
Lòng thương yêu nòi giống, lòng thương yêu Tổ-quốc non sông là bó đuốc soi đường cho
dân-tộc.
Nào anh-hùng Lý-Thường-Kiệt bình Khâm-châu, Liêm-châu, Ung-châu (thuộc Quảng-đông
– Quảng-tây) đánh tan quân Tống trên sông Như-Nguyệt (Sông Cầu – 1075)
Nào Kiệt-liệt Trần-Quốc-Tuấn diệt quân Nguyên trên bến Vạn-Kiếp (1284), trên BạchĐằng-Giang (1287)
Nào anh-hùng Lê-Lợi đánh đuổi quân Minh (1427)
Nào anh-hùng áo vải Nguyễn-Huệ đại phá quân Thanh (1789)
Qua các triều-đại, tinh-thần quốc-gia và khả-năng sinh-tồn của dân-tộc đã được đánh dấu
bằng sự-nghiệp Nam-tiến.
Từ Bắc phương tràn xuống, sau khi đã bám chắc được đồng lũng Bắc Việt, để tránh khỏi tiêudiệt giữa sức ép của hai nền văn-minh tối-cổ hùng-hậu: Ấn-Độ và Trung-Hoa, muốn sống, dântộc Việt-Nam chỉ còn một cách là di dân lần lần về phương Nam.
Những cuộc hưng binh của Lê-Đại-Hành (981), Lê -Thái-Tôn (1044) để dẹp cái “bệnh” quấy
nhiễu của Chiêm-Thành, chỉ là dấu hiệu báo trước ý-định di dân của một dân-tộc thông-minh,
quy-củ, có tổ-chức và đầy sức sống. Đấy là ý-định thoát thai tất nhiên trong hoàn-cảnh địa-dư
và tinh-thần của một dân-tộc luôn luôn tiến-bộ như dân-tộc Việt.
Sự-nghiệp di dân vĩ-đại đã được đánh dấu đều đều.
Chúng ta thử kiểm-điểm những kết-quả của tiền-nhân.
– Năm 1069, Chế-Cư, vua Chiêm-Thành, dâng cho Thánh-Tôn nhà Lý 3 châu: Địa-Lý – MaLinh – Bố-Chính (thuộc Quảng-Bình – Quảng-Trị)
– Năm 1306, Chế-Mân dâng cho Nhân-Tôn nhà Trần đất Châu-Ô và Châu-Rí (Thừa-Thiên)
– Năm 1402, Ba-Đích-Lai dâng cho nhà Hồ đất Chiêm-Động và Cổ-Lũy (Quảng-Nam –
Quảng-Ngãi)
– Năm 1470, nhà Lê lấy đất Đồ-Bàn, Đại-Chiêm
– Năm 1611, Nguyễn-Hoàng lấy Phú-Yên
– Năm 1653, Chúa Hiến lập Thái-Ninh-Phủ (Khánh-Hoà)
– Năm 1693, Chúa Nguyễn lập Thuận-Phủ (Phủ-Bình-Thuận)
– Năm 1698 đến 1714, dân-tộc Việt-Nam lan đến Đồng-Nai Hạ rồi đến Hà-Tiên, cắm mốc
cuối cùng của sự-nghiệp mở mang bờ-cõi
Năm 1802, Đức Thế-Tổ Gia-Long thu gồm giang-sơn về một mối, dân Việt-Nam sống tưng-
C
bừng trong nền Độc-Lập thống-nhất, phú-cường.
Dân-tộc đã thành-công trong sự-nghiệp di dân vĩ-đại, dân-tộc đã tránh được sự thôn-tính
của Bắc-phương, đã thoát được ảnh-hưởng ở bên kia bờ Cửu-Long-giang và đã lập được một
nước Việt-Nam hùng mạnh, thống-nhất suốt từ Ải Nam-Quan đến đầu mũi Cà-Mâu. Người Việt
tự bảo-vệ giống-nòi, do đó phát-huy khả-năng dân-tộc
Mỗi bước tiến về phương Nam chỉ là mỗi cuộc “tấn-công để phòng thủ”. Tính-chất của nó
tương-đồng với ý-nghĩa của chiến-tranh tự-vệ chống Bắc-phương. Không thể ai chối cãi được
tinh-thần bảo-vệ giống-nòi, trong sự-nghiệp phát-triển quốc-gia dân-tộc.
Từ năm 1862 đến năm 1945, nước nhà bị rời vào ách nô-lệ nhưng, 83 năm, con cháu oanhliệt của tiền-nhân vẫn chiến-đấu không lúc nào ngừng, mặc dù thủ-đoạn thống-trị của Tâyphương khoa-học hơn mánh-khoé cai-trị của người Trung-Hao trước. Coi thường súng đạn,
coi thường giam cầm đầy ải, biết bao nhiêu hoạt-động cứu quốc vẫn kế tiếp nhau, biết bao
nhiêu phong-trào khởi-nghĩa vẫn thay phiên nhau:
Nào “Cần-Vương” của những Văn-thân bắt nguồn trong Khổng Mạnh.
Nào “Duy-Tân” với làn sóng văn-minh Âu – Á.
Nào “Dân-Tộc Giải-Phóng” với tư-tưởng cách-mệnh quốc-gia, quốc-tế.
Mỗi phong-trào tuy có khác nhau về hình-thức, nội-dung, nhưng kỳ chung, mục-đích đầu
tiên cũng vẫn là: cứu dân, cứu nước
Vì đâu dân-tộc Việt có óc tự-cường, không hề bị tiêu-diệt trước hành-vi thôn-tính của vũ-lực
ngoại-bang, trước ảnh-hưởng thấm-nhuần của mọi triết-lý Đông – Tây?
Chỉ vì dân-tộc Việt-Nam biết yêu nước, biết đoàn-kết, biết tranh-đấu. Không một sức mạnh
nào lay chuyển nổi dù sức mạnh đó tàn-bạo đến bực nào.
Cá-tính quốc-gia đã được tượng-trưng bằng mọi hình, mọi vẻ.
Người Việt-Nam từng chịu Trung-Hoa đô-hộ trên một nghìn năm, trong khi họ đem sang ta
dao bén, giáo dài. Họ đã mang theo cả khuôn-khổ của nền văn-hoá vĩ-đại hòng thôn-tính ta cả
về thể-xác lẫn tâm-hồn. Nhưng nhầm thay, dân-tộc Việt sẵn có một cá-tính giống-nòi — luyện
hợp với thủy-thổ, sinh-hoạt khí-hậu — đã biết thành cá-tính quốc-gia chỉ có phát-triển nhịp
theo hoàn-cảnh, điều-kiẹn chứ không bao giờ có thể suy-vong.
Qua bao thế-kỷ, từng thấm nhuần Đông-triết, nay thêm tiếp-xúc văn-hoá Thái-Tây, người
dân Việt đã biết dung-hoà và gìn giữ những gì là thích-hợp, tự tạo ra bản-năng đặc biệt và
không bị hoàn-toàn chi-phối.
Cá-tính Quốc-Gia đã được chứng-minh bởi lịch-sử:
– Người Việt học NHÂN, NGHĨA, LỄ, TRÍ ,TÍN TRUNG-QUÂN, ÁI-QUỐC của Khổng – Mạnh.
Nhưng người “tôi” Việt không “trung” với “Thiên-triều”; người dân Việt không “nhân” với bè lũ
Thoát-Hoan, mà cũng không hề “nghĩa” với bè lũ Tôn-Sĩ-Nghị.
– Trọng LÃO giáo, PHẬT giáo, THIÊN-CHÚA giáo, học vị-tha, bác-ái, suy “Điềm-tĩnh”, “Vô-vi”
nhưng trước hung-tàn bạo-ngược của ngoại-bang, người dân Việt biết đứng dậy xua đuổi quân
thù.
– Thấm nhuần lý-thuyết của Locke, của Voltaire, của Rousseau, nhưng không dung những kẻ
“tự-do” đi cướp “nhân quyền” để “phát-triển nhân-quyền”.
Trên một nghìn năm tranh-đấu chống ngoại-xâm đã chứng-minh tinh-thần dân-tộc.
Dân-tộc Việt ngày càng rèn dũa. phát-triển cá-tính quốc-gia trên mọi mặt.
Quân-sự:
Người Trung-Hoa dạy Tôn-Ngô Binh-pháp.
Người Việt đã quốc-gia-hoá Tôn-Ngô Binh-pháp: Binh-pháp của nhà Lý khiến cho Tốngtriều phải học lại. Binh-Thư Yếu-Lược của nhà Trần đã đẩy lui quân Nguyên.
Chính-trị, Văn-hoá, Xã-hội:
– Thái-độ mạnh bạo trong cuộc cải-cách văn-hoá như sự phát-triển chữ Nôm trong thời-kỳ
chữ Nho toàn-thịnh.
– Thực-hiện cải-cách cai-trị, thuế-má, điền-địa mặc dù trên đất nước Trung-Hoa những để
tử của Khổng – Mạnh vẫn còn rụt-rè.
Quá-trình tiến-hoá của dân-tộc, qua bao lớp sóng phế-hưng , qua bao cuộc xâm-lăng của
ngoại-bang đã không bị kiệt-quệ hoặc mất tính-chất thuần-túy quốc-gia, trái lại, đã nẩy nở
thêm chí quật-cường lòng yêu nước thương nòi vô bờ bến trong tâm-can người dân nước Việt.
B- Những ngày tàn của một chế-độ
Qua ngót nghìn năm sống hiên-ngang với nền tự-chủ, đến cuối thế-kỷ 19, đường Việt lại bắt
đầu vướng xích xiềng nô-lệ.
Người Pháp dùng chánh-sách “Tầm Thực” (tầm ăn dâu) chiếm miền Nam nước Việt (HoàƯớc 1862) rồi lấn dần, lập cuộc Bảo-hộ Bắc, Trung (Hoà-Ước 1874 và Hoà-Ước Harmand
1883).
Kế tiếp chánh-sách “tầm thực”, chánh-sách “Chia Để Trị” được áp-dụng triệt-để, kết-quả:
quyền nội-trị của Việt-Nam dần thu hẹp như “miếng da lừa”, ngày một mất tính-chất, có hìnhthức, thiếu nội-dung (Hoà-Ước 184 và 1883), không còn giá-trị thực-tế nữa.
Vòng thuộc địa bắt đầu.
CHÍNH-TRỊ
Bắc. Trung, Nam có riêng mỗi xứ một chế-độ. Mỗi chế-độ một tổ-chức khác nhau và hìnhthúc có vẻ dân-chủ:
– Nam-Việt có Thống-Đốc. Thống-Đốc lập ra Hội-đồng Thuộc-địa, Hội-đồng hàng Tỉnh, Hộiđồng Thành-phố.
– Trung-Việt có Khâm-Sứ làm việc “bên cạnh” nhà Vua. Khâm-Sứ coi việc “ngoại-giao” bằng
cách quyết đoán mọi việc và chủ toạ Viện-Cơ-Mật. Khâm-Sứ lập Hồi-đồng Dân-biểu và đặt
Công-sứ cho mỗi tỉnh.
-Bắc-Việt có Thống-Sứ. Thống-Sứ “hợp-tác” với Kinh-Lược Việt-Nam thay Vua định việc và
chỉ phải tâu với Vua những việc đã làm. Mỗi Tỉnh có một Công-Sứ trực tiếp cai-trị. Thống-Sứ
lập ra Hội-đồng hàng Tỉnh , Hội-đồng Dân-biểu.
Việc cai-trị 3 Xứ đặt dưới một Ông Toàn-Quyền. Toàn-Quyền phụ thuộc Bộ Thuộc-Địa Pháp.
KINH-TẾ:
Pháp thành-lập Sở Địa-Chất, Sở Mỏ đầy đủ để khai-thác tài-nguyên. Nhân-công của thuộcđịa nhiều và rẻ tiền khiến Pháp tận-lực lợi-dụng khai-khẩn trồng-trọt, mở-mang kỹ-nghệ nhẹ
để thu lợi:
– Nào mỏ than Hòn-Gay, Uông-Bí, mỏ vàng Bồng- Miêu, mỏ sắt Cao-Bằng…
– Nào đồn-điền cà-phê Yên-Bái, Phú-Thọ, Chi-Nê, đồn-điền cao-su Thủ-Dầu-Một, Biên-Hoà.
-Nào nhà máy giấy Đáp-Cầu, nhà máy đường Hiệp-Hoà, nhà máy xi-măng Hải-Phòng, nhà
máy diêm Bến Thủy, nhà máy sợi Nam-Định, nhà máy Rưọu, nhà máy Điện, nhà máy Nước
v.v…
Việc xuất-cảng, nhập-cảng bị nắm trọn quyền. Thuế-má, điền-thổ được cải-cách thích-hợp
theo nguyên-tắc muôn thuở của chánh-sách thực-dân.
QUÂN ĐỘI:
Một ngân-sách to lớn trên 100,000,000 đồng được thu lập để tổ-chức quân-đội, mục-đích
giữ vững địa-vị “Bảo-Hộ” tổng thu quyền-lợi kinh-tế.
GIÁO-DỤC:
Trường công mỗi tỉnh không quá hai trường. Trường tư không có phép mở tự-do. Sự học
gián-tiếp bị hạn-chế chỉ cốt có đủ số người dùng trong các công, tư sở Pháp. Đã vậy việc học
hành lại hết sức khó-khăn, vì phải đủ nhiều “điều-kiện cần-thiết” mới được nhập trường hay
thi-cử.
XÃ-HỘI:
Ngoài mấy công-việc đáng ghi nhớ như tẩy trừ bệnh dịch-hạch, đậu mùa, chó dại thì dân
Việt-Nam vẫn phải “ưa” dùng thuốc Bắc rẻ tiền, dễ bề mời thầy, gọi thuốc. Lý-do: nhà thương ít
ỏi, “đốc-tờ” ít ỏi.
Từ năm 1940, Toàn-Quyền Decoux cố-gắng bù đắp những lỗ hổng của quá-khứ:
– Cải-tổ Chính-phủ Nam-Triều (1942)
– Nâng cao Việt ngữ bậc Tiểu-học
– Cho phép thành-lập Hội Truyền-Bá Quốc-Ngữ
– Lập thêm trường ở hương-thôn
– Mở mang Đại-Học-vụ
– Công-chức Việt và Pháp tương-đối ngang ngạch về lương-bổng và đối-đãi.
– Phong-trào Thanh-niên Khoẻ của Thiếu-tá Ducoroy
– Đường sá cầu cống, thủy-nông, thành-phố được mở man sửa chữa.
Nhưng buồn thay, quá-trình “mở-mang khai-hoá” thuộc-địa của người Pháp đã làm cho
Việt-Nam kém tin-tưởng. Những cố-gắng của Toàn-Quyền Decoux không gây được tiếng vang
nào.
Chế-độ cai-trị và chánh-sách đối xử trong 83 năm qua đã gián-tiếp giúp Nhật-Bản lật đổ
chính-quyền.
Nhật-Bản tuyên-bố giả Độc-Lập cho Việt-Nam sau ngày 9 tháng 3-1945 và nêu rõ mục-đích
thiết-lập Đại Gia-Đình Đông-Á.
Việt-Nam Độc-Lập?
Trong lịch-sử các dân-tộc trên thế-giới thử hỏi có dân-tộc nào lại được may-mắn hưởng
độc-lập dễ-dàng theo liểu của Việt-Nam ?
Toàn dân Việt đã thấy, sau khi vua Bảo Đại tuyên-bố hủy-bỏ tất cả những Hiệp-Ước ký giữa
Việt – Pháp từ xưa để sửa-soạn tổ-chức một nước Việt-Nam Độc-Lập, thì tại Nam- Việt, Yoshio
Minoda chiếm địa-vị Thống-Đốc, nguyên Đại-sứ Yokoyam thay chân Khâm-Sứ Pháp ở TrungViệt và ngoài Bắc nhà ngoại-giao T.Tsukamoto nắm chặt cơ-quan cai-trị….
Song song với quyền cai-trị của các “Cố-Vấn” Nhật, chính-sách khủng-bố của quân-đội
Machijiri, Tsushihashi, Sadao Kawamura được áp-dụng triệt-để làm hậu-thuẩn.
Việt-Nam chỉ độc-lập trên giấy tờ!!
Chính-sách thống-trị mới, vừa thâm-thúy vừa ích-kỷ vừa kiêu-ngạo độc-ác của quân-đội
Thiên-Hoàng, vừa do hoàn-cảnh chiến-tranh khiến dân ta càng thêm đói cực, chết chóc kể
hàng triệu.
Tâm-can người Việt-Nam hun-đúc trên 80 năm Pháp thuộc, nay người Nhật tưới thêm, dầu
lửa cứu quốc nhất định phải bùng lên.
Chế-độ của Pháp, của Nhật, hay chế-độ thực-dân-địa nói chung đã đưa đến kết-quả dĩ nhiên:
ngày lịch-sử 19 tháng 8 năm 1945.
CHƯƠNG HAI
1.- CHÍNH PHỦ TRẦN TRỌNG KIM
hiến tranh hoàn cầu lần thứ II bùng nổ. Một việc trọng đại làm thay đổi cuộc diện thế
giới như vậy, người Việt Nam không hề tỏ thái độ của mình. Hoặc ủng hộ Đồng Minh,
hoặc theo ''Trục'' hay ít nhất, đối ngoại phải tỏ rõ lập trường, đối nội, phải tích cực
chuẩn bị giữ mình.
Hiểu tiền đồ dân tộc, rõ sự liên hệ mình với người, biết nhìn trước thời cuộc, chỉ có những
người làm chính trị, những đảng phái cách mệnh, hay một số các người được gọi là trí thức.
Phải chăng đại đa số dân Việt Nam không biết đọc, không biết viết, không có dịp tập hợp
dưới cờ Cứu Quốc, đã không theo dõi được tình hình, không kiểm điểm nổi bước tiến của Lịch
Sử dân tộc ?
Phải chăng, với tình hình thế giới, người Việt Nam quá lãnh đạm thờ ơ ?
Nước Pháp thua ư ? Thì kẻ chiến thắng Pháp cũng là kẻ chiến thắng Việt Nam.
Ngước Pháp được ư ? Người Việt vẫn trong vòng cương tỏa, có chăng vài ''tù nhân'' được ân
xá, vài ngày lễ chiến thắng, điểm binh, công chức nghỉ phép, học trò được chơi…
Thế này hoặc thế khác, người dân Việt vẫn phải còng lưng làm việc, đóng thuế (có khi nặng
hơn trước để bù vào chiến tranh phí), vẫn mù chữ (vì dốt nát giúp sự cai trị được dễ dàng), vẫn
không được tự do ngôn luận, lập hội, lập đoàn…Nghĩa là người dân không thay đổi gì hết, nếu
có, cũng không đáng kể gì.
Tại sao dân Việt Nam lại thờ ơ như vậy ?
Vì chế độ thuộc địa trên đất Việt đã khắc sâu vào tâm khảm người dân những nét đáng buồn.
Trên giải đất thân yêu có những phản ảnh lúc tế nhị, lúc bạo tàn. Sự thay đổi làn không khí
âm u của non thế kỷ, dù không khí mới nhẹ hay nặng, việc đó không chắc lợi lộc gì cho Việt
Nam cả.
Trạng thái tâm lý đã như vậy, nhưng tinh thần ra sao ? Phải chăng qua 80 năm trói buộc, tâm
hồn người Việt đã bị trơ mòn đến nỗi tê liệt óc tranh đấu quật cường ?
Không!!
Bản tính người Việt suy nghĩ và trầm lặng.
Người dân Việt hằng nhắc tới hành động yêu nước trong những phong trào khởi nghĩa của
Cha, Anh. Người dân vẫn chờ đợi, chờ đợi một cái gì mới mẻ sẽ đến.
Năm 1939, chiến tranh thế giớ thực sự bắt đầu.
Trục là kẻ thù của Pháp: Nhật Bản ở phe Trục. Nhật là người Á Đông, hình dáng giống Trung
Hoa và Việt. Nhật cũng hấp thụ đạo lý Khổng Mạnh, cũng dùng chữ Nho: Huynh đệ với Việt
Nam về phương diện tinh thần! Người dân Việt biết thế.
Năm 1940, muốn đánh tập hậu và chặt đường tiếp tế Tưởng Giới Thạch, quân đội Thiên
Hoàng cố tình đổ lỗi cho Pháp, tìm cớ để mượn đường Bắc Việt hành quân. Đã kém vế với
Hitler ở chính quốc, Pháp phải ôn hòa với Nhật ở Đông Dương, vì xét thực lực mọi mặt, Nhật
Bản nắm ưu thế rõ ràng.
Sau một hồi tin đi mối lại, dưới sự hăm dọa của quân đội Phù Tang, Đô Đốc Decoux, người
vừa thay thế chức Toàn Quyền Đông Dương của Tướng Catroux, dằn lòng cho Đại Tá Nhật đem
quân lực vào Bắc Việt, ''mượn'' Hải Phòng làm trạm dừng quân, ''mượn'' căn cứ Gia Lâm, Lào
Kay, Phủ Lạng Thượng cho Không Quân Hoàng Gia. Đối lại, chánh phủ Nhật phải tôn trọng chủ
quyền Pháp ở Đông Dương và bảo đảm hành vi quân đội.
Tháng 9.1940, quân Nhật đặt chân lên đất Việt Nam theo thỏa hiệp đã ký kết.
Thoạt đầu bóng người quân nhân Nhật Bản cũng gây được đôi chút cảm tình với người dân
Việt: có lúc lính Nhật cho trẻ con kẹo, bánh, thuốc lá, có lúc họ vào chơi nhà dân chúng, vái bàn
thờ một cách lễ độ, có lúc họ đánh người Pháp bênh người Việt ngoài đường phố…Thái độ ấy
người dân Việt thường tỏ ra bằng lòng.
Về sinh hoạt, người Nhật liên tiếp mở hiệu buôn, nhà thầu, tương đối giảm bớt được một số
người thất nghiệp, có người đã trở nên giàu có…Hàng của họ bán rất rẻ, vải có, thuốc có (Thời
kỳ này, ngoại phẩm bên Pháp không sang được).
Chữ Nho như trỗi dậy sau 80 năm tưởng chừng đã chết. Việt và Nhật có thể bút thoại, người
C
ta bắt đầu sưu tầm ''bước tiến'' loại sách báo Tân A, ''Vương dương Minh'' thấy xuất hiện.
Người dân quen dần với những chiếc xe nhà binh màu đất, với kiểu quần áo cắt lùng thùng, với
cây kiếm dài lê thê, với tiếng giầy đinh lệt xệt…Một đôi khi, từ cái mũ (lưỡi trai) thốt ra câu
tiếng Việt, người dân nghĩ đến Kỳ Ngoại Hầu Cường Để, rể của Hoàng Tộc Phù Tang, bàn tán
đến Việt Nam Phục Quốc Đồng Minh Hội.
Nhật thắng Pháp thêm một điểm, dân chúng Việt Nam quay nhìn sức mạnh của con cháu
Thái Dương Thần Nữ, tơ tưởng đến lòng tốt của người Nhật Bản.
Chính khách của Thiên Hoàng xúc tiến đẩy mạnh phong trào nào giúp Đảng Đại Việt, Việt
Nam Phục Quốc, Cao Đài, Hòa Hảo, v.v…
Đồng thời với những vụ rối loạn, bạo động ở Sài Gòn, Cần Thơ, Rạch Giá, Bạc Liêu, Đồng
Tháp Mười (1940), Nghệ An, Đô Lương (1941), Pháp phải dùng đến bom triệt hạ, người Nhật
đã biết lợi dụng lòng yêu nước của người Việt để xoa nặn lòng ái quốc của dân tộc Việt Nam ,
mục đích đẩy Pháp đến đường cùng.
Giữa lúc Pháp và Nhật tranh dành nhau, kèn cựa đối phó nhau, phong trào Việt Minh phát
triển: Mối lo âu cho Nhật lẫn Pháp.
Việt Minh là hai chữ tắt của Việt Nam Độc Lập Đồng Minh Hội, do một số các người cách
mệnh quốc tế lãnh đạo, thành lập năm 1941. Phương châm: ''Bài Phong, Phản Đế, Diệt Phát Xít''
giải phóng dân tộc Việt Nam, hợp tác với mọi lực lượng chống Phát Xít, tiêu diệt thực dân và đế
quốc chủ nghĩa.
Việt Minh tố giác Nhật Bản bề ngoài mơn trớn dân ta, bề trong giết ngấm, giết ngầm. Nào
''mua'' thóc, nào ''khuyến khích'' trồng đay, trồng gai thay cho ngô, lúa. Người Nhật có phương
tiện ''giản dị'' hơn người Pháp, thích hợp hơn người Pháp: dân ta, kẻ nào làm ''rối trật tự'' chắc
chắn được đi nếm vị ''âm dương'', ''tầu bay, tầu thủy'' [1] tượng trưng thuần túy của ''Võ sĩ đạo''
và thường thường, kẻ ''có tội'' được trả nợ non sống dưới đường kiếm sắc.
Tinh thần người dân Việt lại lung lay. Tâm lý người dân Việt lại thay đổi. Một số người lại
tiếc rẻ hình dáng cũ. Quân đội Nhật hung ác quá.
Người Nhật đào thêm hố chia rẽ giữa Pháp và Việt. Thái độ bàng quan của Việt do đó ngày
càng rõ.
Phái thân Nhật phát triển hoạt động. Pháp cố gắng liên lạc với Đồng Minh. Tiềm lực giải
phóng quốc gia dân tộc của Việt Nam liên tục chuyển mình.
Đùng một cái Matsumoto gửi tối hậu thư cho Decoux (20 giờ ngày 8.3. 1945), mười tiếng
đồng hồ sau, cờ mặt giời phất phới tung bay trên thủ đô nước Việt.
9.3.1945!
Tòa nhà của Pháp nỗ lực xây trong 80 năm đằng đẵng sụp đổ trong khoảng khắc.
Sau khi đảo chính, Tổng tư lệnh quân đội Nhật ở Đông Dương tuyên bố: ''Người Nhật trao trả
Độc Lập cho Việt Nam để cùng nhau lập khối Đại Đông Á'' [2]
Ngày 11.3.1945, Vua Bảo Đại tuyên bố hủy bỏ tất cả những hiệp ước ký với Pháp từ xưa và
chánh phủ Việt Nam tin tưởng ở nhiệt thành, đẹp đẽ của Nhật: Việt Nam Độc Lập.
Báo chí lại bắt đầu xuất bản. Các đảng phái công khai xuất hiện: Phục Quốc, Đại Việt Quốc
Gia Liên Minh, Thanh Niên Ái Quốc Đoàn v.v…
Tuy niên dân chúng vẫn thờ ơ, chưa thấy điều gì mới lạ. Để giải quyết vấn đề tâm lý, Nội các
của các ông Thượng Thư giải tán.
Sau khi chuẩn y cho Nội Các cũ từ chức, Vua Bảo Đại triệu tập nhân tài ra giúp nước.
Tình trạng bi đát lúc giao thời: Nạn đói tung hoành trên đất Bắc, đốt thóc khai than tại miền
Nam, toàn thể bộ máy hành chính bị tê liệt, sự đi lại bị kiểm soát ngặt nghèo. Thêm vào đó nạn
chợ đen và bom Mỹ. Một đạo Dụ ra đời tạm thỏa lòng dân mong đợi:
Nước Việt Nam Độc Lập đã có một Nội Các mới (17.4.1945) do Cụ Trần Trọng Kim làm Thủ
Tướng với các Bộ:
Ngoại Giao:
Nội Vụ:
Kinh Tế:
Tài Chính:
Trần Văn Chương
Trần Đình Nam
Hồ Tá Khanh
Vũ Văn Hiền
Tiếp Tế:
Nguyễn Hữu Thi
Giáo Dục Và Mỹ Thuật: Hoàng Xuân Hãn
Tư Pháp:
Trịnh Đình Thảo
Thanh Niên:
Phan Anh
Giao Thông Công Chính:Lưu Văn Lang
Y Tế Cứu Tế:
Trương Như Định
Đó là Nội Các đầu tiên với những tên Bộ nghe tân tiến. Chính phủ Nam triều trước ngày
9.3.1945 gồm có 6 Bộ do ông Phạm Quỳnh lãnh đạo:
Bộ Lại:
Phạm Quỳnh (Nội Vụ)
Bộ Hộ:
Hồ Đắc Khải (Tài Chính)
Bộ Lễ:
Ưng Ủy (Tư Pháp)
Bộ Học:
Trần Thanh Đạt (Giáo Dục)
Bộ Kinh Tế:Trương Như Định
Việc thành lập Nội Các mới đã giải quyết vấn đề tâm lý dân chúng một khoảng khắc. Người
dân tỏ cảm tình khi nhận thấy số đông các vị Bộ Trưởng là những người tương đối có tài có
đức. Cụ Trần Trọng Kim là một học giả danh tiếng, tài năng và đức hạnh của Cụ nhiều người đã
biết. Lòng ái quốc từng được diễn đạt qua những tác phẩm của Cụ. Nay đứng lãnh đạo chính
phủ với khẩu hiệu Dân Vi Quý của Vua Bảo Đại. Quốc dân tỏ vẻ tín nhiệm chính phủ mới cũng
như Hoàng Đế tín nhiệm [3]
Ngày 3.5.1945, Hoàng Đế Bảo Đại ban bố một Bản Tuyên Chiếu lời lẽ súc tích, cứng cỏi,
quảng đạt và vô cùng sáng suốt:
'' Chư Khanh,
Nội Các này là chính phủ đầu tiên của nước Việt Nam Độc Lập sau 80 năm thuộc quyền
ngoại quốc thống trị.
Trong thời gian đó, dưới chính thể eo hẹp của người ngoài, dù có tài năng ra giúp nước cũng
thể thi thố được gì.
Nay nhờ được Hoàng Quân Đại Nhật Bản, nước nhà đã được giải phóng.
Những người ra gánh vác việc nước ngày nay là được cái vinh dự tối cao, mà cũng là đảm
đương một trách nhiệm rất to và chịu một sự hy sinh rất nặng.
Trẫm đã lựa chọn khắp nhân tài trong nước, kén lấy những người có học thức, có kinh
nghiệm để đảm đương việc nước trong buổi bây giờ. Trẫm chắc rằng chư khanh sẽ làm chức vụ
không phụ lòng Trẫm ủy thác và lòng dân kỳ vọng.
Điều cần nhất là phải gây sự đồng tâm hiệp lực trong toàn thể quốc dân. Phải đoàn kết chặt
chẽ các giai tầng xã hội và luôn luôn giữ mối liên lạc mật thiết giữa Chính phủ và nhân dân.
Chính phủ ngày nay không phải phụng sự một cá nhân hay một đảng phái nào cả. Dân nô lệ
nhất thiết ỷ lại ở người, dân độc lập nhất thiết trông cậy ở mình. Trông ở mình thì phải gắng
sức hy sinh mới mo...
 





